OTO-HUI - Cộng đồng kỹ thuật và công nghệ ô tô Việt Nam

Vùng trũng hút dòng tiền đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng ven đô

Người mua bất động sản nghỉ dưỡng ven đô giờ đây kỳ vọng không chỉ vào một nơi mang lại sự cân bằng cho cuộc sống mà còn ở khả năng sinh lời dòng tiền và nó phải thực sự như một bộ đồ trang sức có giá và có tính thanh khoản.
Theo ông Nguyễn Thọ Tuyển, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Bất động sản BHS, sau một thời gian dài tăng trưởng kinh tế, giới thượng lưu ở các thành phố lớn ở Việt Nam hiện khá nhiều. Họ giàu lên từ rất nhiều ngành nghề và luôn có nhu cầu đầu tư cũng như thể hiện bản thân qua bất động sản.
📷
Dường như nhu cầu mua bất động sản ven đô để nghỉ dưỡng của giới thượng lưu lại trỗi dậy sau một thời gian dài trầm lắng phải không, thưa ông?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Nhu cầu đầu tư của giới thượng lưu vài năm qua là các sản phẩm bất động sản nghỉ dưỡng ven biển như biệt thự biển và condotel hoặc đất nền tại các tỉnh có tiềm năng phát triển. Trong khi đó, nguồn cung tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM rất hạn chế nên các nhà đầu tư rất ít sự lựa chọn. Sau một thời gian dài tăng trưởng, dòng bất động sản nghỉ dưỡng ven biển giá đã quá cao và đổ vỡ cam kết tại một loạt dự án. Giá đất nền cũng tăng phi mã và ngày càng xa so với nhu cầu thực của người dân địa phương.
Các nhà đầu tư có lẽ dần dần nhận ra rằng nên đầu tư vào loại hình bất động sản nào đó có giá trị thực, vừa an toàn và vừa có khả năng sinh lời từ dòng tiền tốt. Mặt khác, hiện tại nhu cầu nghỉ dưỡng của người dân rất đa dạng và là 365 ngày/năm, chứ không phải chỉ là nghỉ hè tại bãi biển nữa. Khi hạ tầng giao thông phát triển, khách du lịch thích tự lái ô tô thay bằng việc phải đi xa bằng máy bay. Nắm được nhu cầu đó, rất nhiều chủ đầu tư đã đẩy mạnh quy hoạch các dòng sản phẩm bất động sản “nghỉ dưỡng ven đô”.
Bất động sản này có đặc điểm là có vị trí cách đô thị không quá xa, khoảng từ 1-1,5 giờ đi ô tô, có cảnh quan đẹp, địa hình phong phú (rừng, đồi, suối…), không khí trong lành. Bất động sản sở hữu vĩnh viễn được khách hàng ưa chuộng hơn loại hình sở hữu 50 năm hoặc 70 năm. Loại hình này thường được quy hoạch bài bản chuẩn một khu nghỉ dưỡng từ các kiến trúc sư nổi tiếng hoặc có kinh nghiệm.
Bất động sản này cũng đòi hỏi chủ đầu tư phải có lợi thế về tài chính và có kinh nghiệm và các chủ đầu tư thường hay sử dụng các đơn vị quản lý có thương hiệu để việc quản lý bất động sản được tốt hơn và tăng khả năng cho thuê.
Như vậy, người sở hữu một bất động sản nghỉ dưỡng ven đô có được một số những ưu thế như sở hữu lâu dài một bất động sản nghỉ dưỡng và hoàn toàn có thể tăng giá trong tương lai; có được dòng tiền hàng tháng từ việc ủy thác cho thuê lại; thể hiện được đẳng cấp trong xã hội bởi việc sở hữu một căn nhà thứ hai; và có nơi để cân bằng cuộc sống và bên cạnh gia đình ở một nơi đẳng cấp.
Với những ưu thế này, dòng bất động sản nghỉ dưỡng ven đô đang được khách hàng vô cùng chú ý và sẵn sàng đầu tư.
📷
Theo ông, những khu vực nào ở ven đô Hà Nội lý tưởng để phát triển bất động sản nghỉ dưỡng, tại sao? Những khu vực nào còn nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác và có thể trở thành điểm đến của dòng tiền trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Như phân tích ở trên, những nơi có vị trí không xa Hà Nội, có cảnh quan, địa hình, môi trường tốt sẽ thu hút dòng tiền đầu tư. Vì vậy, ta có thể thấy một số tỉnh được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên như sau: Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Phú Thọ, Tuyên Quang. Đó là những địa phương rất gần Hà Nội, có cao tốc đi qua và có địa hình rất đa dạng phù hợp với việc phát triển dòng bất động sản này.
Theo kinh nghiệm của ông, thị trường bất động sản nghỉ dưỡng ven đô hiện nay đã có gì thay đổi so với những năm trước đây? Các chủ đầu tư đang làm gì để thích ứng với sự thay đổi này?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Trước đây, việc đầu tư vào bất động sản nghỉ dưỡng ven đô là của các chủ đầu tư nhỏ, khá manh mún, không đồng bộ và không đủ quy mô và tiện ích. Điều này khiến cho khả năng lưu trú dài ngày của khách hàng bị hạn chế. Hiện nay, rất nhiều các chủ đầu tư lớn đã vào cuộc như Vingroup, Sungroup, Ecopark, Flamingo, An Thịnh Group. Các chủ đầu tư này trú trọng vào quy hoạch, tiện ích, khu vui chơi giải trí, và đặc biệt là khâu quản lý vận hành, bởi họ hiểu rằng khả năng kinh doanh phòng là điều sống còn đối với loại hình bất động sản này.
Theo ông, nhu cầu nghỉ dưỡng ven đô chỉ là nhất thời trong thời gian diễn ra dịch bệnh Covid-19 khi mọi người ngại di chuyển bằng máy bay đi xa đến những khu nghỉ dưỡng biển, hay sẽ là xu thế phát triển dài hạn trong những năm sắp tới?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Đây không phải là loại hình bất động sản phát sinh do tình huống, mà trên thế giới nó cũng được coi là một dòng bất động sản rất hiệu quả. Chính vì vậy, bất động sản nghỉ dưỡng ven đô hoàn toàn sẽ là một nhu cầu thiết yếu của các nhà đầu tư và phát triển dài hạn. Đặc biệt, trong một thế giới hiện đại, khi mà khối lượng công việc lớn, con người rất dễ mất cân bằng, môi trường sống ô nhiễm và một loạt các nguy cơ về dịch bệnh thì việc sở hữu một căn nhà nghỉ dưỡng ven đô là điều cần thiết đối với giới nhà giàu. Họ vừa có thể tích trữ tài sản, vừa có dòng tiền mà lại là nơi trú ẩn mỗi khi muốn tránh xa ô nhiễm và dịch bệnh.
Theo ông, thị trường bất động sản nghỉ dưỡng ven đô đủ sức cạnh tranh để thu hút dòng tiền đầu tư như bất động sản nghỉ dưỡng biển không?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Bất động sản nghỉ dưỡng ven đô có nhiều lợi thế khai thác khách trong thành phố, tuy nhiên rất khó để khai thác du khách nước ngoài. Chính vì vậy, du lịch biển vẫn là điểm đến lý tưởng cho đa dạng các loại hình khách du lịch. Điều này cho thấy hai loại hình này không cạnh tranh nhau khốc liệt quá về nguồn khách. Nếu phát triển song song cả hai loại hình này sẽ mang lại sự an toàn cho các chủ đầu tư và cân bằng các loại hình du lịch. Hai loại hình này sẽ bổ trợ cho nhau chứ không cạnh tranh nhau hoàn toàn.
Tuy vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của bất động sản nghỉ dưỡng ven đô và sự đầu tư bài bản của các chủ đầu tư, cũng như sự thoái trào của bất động sản biển thì trong tương lai, rất có thể bất động sản nghỉ dưỡng ven đô sẽ chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu đầu tư của các nhà đầu tư.
📷
Hiện nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng ven đô Hà Nội có xu hướng mua đất riêng lẻ trong khu dân cư để xây nhà nghỉ ngơi cuối tuần hoặc mua ở những dự án có nhà quản lý vận hành chuyên nghiệp. Ông có thể cho biết ưu và nhược điểm của những hình thức đầu tư này?
Ông Nguyễn Thọ Tuyển: Đúng vậy, hiện tại việc nghỉ dưỡng ven đô theo khá nhiều phong cách. Tuy nhiên, có hai phong cách phổ biến: Thứ nhất là mua đất tự xây tự quản lý và thứ hai là mua nhà dự án được quy hoạch tổng thể theo phong cách nghỉ dưỡng.
Đối với loại hình thứ nhất, mua đất riêng lẻ trong khu dân cư có ưu điểm như giá tính trên 1m2 khá rẻ, có thể tự thiết kế, tự xây theo phong cách của mình và có thể chăn nuôi theo ý muốn.
Tuy nhiên, loại hình có nhược điểm là chi phí đầu tư hạ tầng, cảnh quan, nhà cửa cao; không có tiện ích tập trung như khu vui chơi, gym, spa; việc quản lý vận hành không chuyên nghiệp dẫn tới bất động sản nhanh xuống cấp và giá rất khó tăng trong tương lai; khả năng cho thuê thấp do tự phải kinh doanh. An ninh cũng không đảm bảo khó thể hiện được thương hiệu của chủ nhân do không nằm trong một quần thể có tiếng tăm.
Ngoài ra người mua có thể gặp rủi ro là nếu có quy hoạch dự án vào phần đất đầu tư thì căn nhà sẽ thuộc diện giải phóng mặt bằng.
Đối với loại hình thứ hai, mua nhà trong dự án quy hoạch theo phong cách nghỉ dưỡng có ưu điểm là nằm trong một dự án được quy hoạch bài bản sẽ được hưởng lợi từ hạ tầng, tiện ích, khu vui chơi giải trí tập trung; được vận hành bài bản, chuyên nghiệp nên giữ được giá trị của căn nhà; an ninh đảm bảo do được quản lý tập trung. Khả năng cho thuê cũng cao do nằm trong quần thể có thương hiệu (điểm đến uy tín) và khả năng tăng giá tốt khi kinh doanh tốt và nguồn cung của loại hình này không nhiều. Ngoài ra, mô hình này cũng an toàn pháp lý do nằm trong dự án được cấp phép đúng quy định pháp luật và giúp tăng giá trị thương hiệu của người sở hữu do sở hữu căn nhà nằm trong quần thể có thương hiệu.
Nhược điểm của mô hình này là chủ căn nhà không được tự do thay đổi chiều cao, mẫu nhà theo ý mình do căn nhà nằm trong quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt. Việc biến căn nhà thành một trang trại là không thể do phải tuân thủ quy tắc quản lý của toàn khu.
Nhìn chung, cách đây 10 năm có làn sóng đầu tư theo loại hình thứ nhất. Người mua thường rủ nhau mua một quả đồi hoặc một khu đất để tự xây dựng. Tiền mua đất thì khá rẻ, nhưng tiền đầu tư vào hạ tầng và căn nhà thì rất lớn. Căn nhà chủ yếu được sử dụng như một trang trại và dần dần chủ nhân cũng không lên thường xuyên và cũng không cho thuê dược. Căn nhà sẽ trở nên hoang phế và không có giá trị gia tăng.
Hiện nay, các nhà đầu tư đã tính toán hơn rất nhiều. Họ kỳ vọng không chỉ vào một nơi mang lại sự cân bằng cho cuộc sống mà còn ở khả năng sinh lời dòng tiền và nó phải thực sự như một bộ đồ trang sức có giá và có tính thanh khoản. Do vậy, loại hình bất động sản nghỉ dưỡng thứ hai có cơ hội phát triển bền vững hơn.
Nguồn: Báo địa ốc
Xem thêm: Legacy hill , thông tin về dự án bất động sản , dự án nghỉ dưỡng , tin bat dong san , du an bat dong san , thông tin dự án mới nhất , khu du lịch nghỉ dưỡng , tin dự án , batdongsans , tin nóng , bất động sản , tin thể thao , công ty agency quảng cáo , dịch vụ quảng cáo giá rẻ , thuê chạy quảng cáo facebook , mua bán nhà đất , tin tức bất động sản , chuyển nhượng mua bán bất động sản , anime , manga , otaku , công ty bds tnb land , mở bán dự án bất động sản , tin tức mới về dự án bất động sản , xem anime , xem anime phiêu lưu , xem anime harem vietsub , diễn đàn anime manga việt nam , ảnh cosplay đẹp , tin anime manga mới ,
submitted by otakugo to u/otakugo [link] [comments]

Tim hieu khai niem vai tro va chuc nang tien te tai Luan Van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên làm báo cáo thuê xin giới thiệu đến bạn khái niệm tiền tệ, vai trò của tiền tệ và chức năng tiền tệ một cách chi tiết và đầy đủ nhất.
📷
Khái niệm, vai trò và chức năng tiền tệ

1. Khái niệm tiền tệ

Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loài người trong lĩnh vực kinh tế, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội.
Vậy, tiền tệ là cái gì? Nó ra đời từ lúc nào? Để tìm hiểu rõ về nguồn gốc ra đời của tiền tệ, có rất nhiều các quan điểm khác nhau.
Trong kinh tế chính trị của các nước phương Tây hình thành nên hai trường phái:
Một trường phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu khách quan của quá trình trao đổi hàng hóa (Trường phái kinh tế chính trị học cổ điển như: Adam Smith, David Ricardo…)
Trường phái thứ hai giải thích sự xuất hiện của tiền như là một sự kiện có tính chất tâm lý (như hai nhà tâm lý học W.Gherlop và Smondest). Họ cho rằng: “Nguồn gốc của tiền tệ không nằm trong ‎quá trình trao đổi hàng hóa mà do lòng ham muốn hiểu biết và nhu cầu làm đẹp là bản tính của đàn bà. Còn bản tính của đàn ông lại là danh vọng, và sự ham muốn có nhiều tiền”
Lần đầu tiên, C.Mác vận dụng phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu các hiện tượng kinh tế. Ông đã nghiên cứu sự phát triển của các hình thái trao đổi từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến quá trình trao đổi hàng hóa sử dụng tiền tệ, từ đó ông xác định bản chất của tiền tệ cũng như sự ra đời của nó.
Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm mống của sự trao đổi. Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác. Giá trị (tương đối) của một vật được biểu hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá.
Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn. Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng. Tham gia trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau. Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:
– Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn nhiều hàng hóa làm vật ngang giá.
– Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa lại không thuần nhất.
Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó. Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có cùng ‎ muốn trao đổi, ‎ muốn trùng khớp. Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng. Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ như súc vật. Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung. Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng của vật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong những vùng khác nhau tì có những thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá chung.
Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng. Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất. Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ. Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.
Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị.
Tóm lại, tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Sau khi xem xét lịch sử hình thành tiền tệ, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tiền tệ. Mọi người đều biết tiền tệ là một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ra một khái niệm thống nhất về tiền tệ.
Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.
Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

2. Vai trò của tiền tệ

Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:
-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta không thể tiến hành sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.
Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh
Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiếu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.
– Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.
-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ giá thuê làm luận văn tốt nghiệp, dịch vụ viết assignment , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Chức năng tiền tệ

Khi đề cập đến vấn đề chức năng của tiền tệ, các nhà kinh tế học đã cho rằng tiền tệ có ba chức năng thước đo giá trị, trung gian trao đổi và bảo toàn giá trị. Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế học thêm vào chức năng thứ tư: làm phương tiện thanh toán hoàn hiệu. Theo Mác, khi giả định vàng làm hàng hóa tiền tệ, ông đã cho rằng tiền có năm chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới. Trãi qua quá trình phát triển, khoa học tiền tệ không ngừng phát triển, trong nền kinh tế hiện đại các chức năng ban đầu của tiền tệ vẫn có ‎ nghĩa nhất định.

3.1. Chức năng thước đo giá trị

Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.
Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomet. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này. Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.
Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N
Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị với 1000 mặt hàng khác nhau. Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá của cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc, trong khi 1 kilogam cá được định giá bằng 3 kilogam cà chua. Chắc chắn rằng bạn có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra 999 giá khác nhau và thời gian dùng để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch tăng đáng kể.
Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá cho tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải hay muối. Nếu chỉ có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có ‎ nghĩa lớn so với nền kinh tế đổi chác vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch. Tuy nhiên, với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với 10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá. Tại siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500 giá.
C.Mác đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại. Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong ‎ niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại‎ trong một đơn vị tiền tệ.
Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ…

3.2. Chức năng phương tiện trao đổi

Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.
Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức độ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.
Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:
– Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền:H-T
– Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H
Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không đi liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng. Chính sức mua (Purchasing power) của tiền tệ đã quyết định điều này. Do vậy muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định, số lượng tiền tệ phải đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế, hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giao dịch của dân chúng.

3.3. Chức năng phương tiện thanh toán

Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.
Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.
Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.
Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

3.4. Chức năng phương tiện tích lũy

Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.
Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và ít sinh lời.
Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

3.5. Chức năng tiền tệ thế giới

Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.
Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-vai-tro-va-chuc-nang-tien-te/
submitted by dangthutra24 to u/dangthutra24 [link] [comments]

Tim hieu khai niem vai tro va chuc nang tien te tai Luan Van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên làm báo cáo thuê xin giới thiệu đến bạn khái niệm tiền tệ, vai trò của tiền tệ và chức năng tiền tệ một cách chi tiết và đầy đủ nhất.
📷
Khái niệm, vai trò và chức năng tiền tệ

1. Khái niệm tiền tệ

Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loài người trong lĩnh vực kinh tế, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội.
Vậy, tiền tệ là cái gì? Nó ra đời từ lúc nào? Để tìm hiểu rõ về nguồn gốc ra đời của tiền tệ, có rất nhiều các quan điểm khác nhau.
Trong kinh tế chính trị của các nước phương Tây hình thành nên hai trường phái:
Một trường phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu khách quan của quá trình trao đổi hàng hóa (Trường phái kinh tế chính trị học cổ điển như: Adam Smith, David Ricardo…)
Trường phái thứ hai giải thích sự xuất hiện của tiền như là một sự kiện có tính chất tâm lý (như hai nhà tâm lý học W.Gherlop và Smondest). Họ cho rằng: “Nguồn gốc của tiền tệ không nằm trong ‎quá trình trao đổi hàng hóa mà do lòng ham muốn hiểu biết và nhu cầu làm đẹp là bản tính của đàn bà. Còn bản tính của đàn ông lại là danh vọng, và sự ham muốn có nhiều tiền”
Lần đầu tiên, C.Mác vận dụng phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu các hiện tượng kinh tế. Ông đã nghiên cứu sự phát triển của các hình thái trao đổi từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến quá trình trao đổi hàng hóa sử dụng tiền tệ, từ đó ông xác định bản chất của tiền tệ cũng như sự ra đời của nó.
Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm mống của sự trao đổi. Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác. Giá trị (tương đối) của một vật được biểu hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá.
Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn. Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng. Tham gia trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau. Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:
– Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn nhiều hàng hóa làm vật ngang giá.
– Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa lại không thuần nhất.
Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó. Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có cùng ‎ muốn trao đổi, ‎ muốn trùng khớp. Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng. Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ như súc vật. Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung. Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng của vật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong những vùng khác nhau tì có những thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá chung.
Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng. Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất. Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ. Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.
Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị.
Tóm lại, tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Sau khi xem xét lịch sử hình thành tiền tệ, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tiền tệ. Mọi người đều biết tiền tệ là một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ra một khái niệm thống nhất về tiền tệ.
Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.
Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

2. Vai trò của tiền tệ

Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:
-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta không thể tiến hành sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.
Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh
Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiếu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.
– Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.
-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ giá thuê làm luận văn tốt nghiệp, dịch vụ viết assignment , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Chức năng tiền tệ

Khi đề cập đến vấn đề chức năng của tiền tệ, các nhà kinh tế học đã cho rằng tiền tệ có ba chức năng thước đo giá trị, trung gian trao đổi và bảo toàn giá trị. Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế học thêm vào chức năng thứ tư: làm phương tiện thanh toán hoàn hiệu. Theo Mác, khi giả định vàng làm hàng hóa tiền tệ, ông đã cho rằng tiền có năm chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới. Trãi qua quá trình phát triển, khoa học tiền tệ không ngừng phát triển, trong nền kinh tế hiện đại các chức năng ban đầu của tiền tệ vẫn có ‎ nghĩa nhất định.

3.1. Chức năng thước đo giá trị

Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.
Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomet. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này. Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.
Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N
Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị với 1000 mặt hàng khác nhau. Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá của cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc, trong khi 1 kilogam cá được định giá bằng 3 kilogam cà chua. Chắc chắn rằng bạn có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra 999 giá khác nhau và thời gian dùng để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch tăng đáng kể.
Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá cho tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải hay muối. Nếu chỉ có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có ‎ nghĩa lớn so với nền kinh tế đổi chác vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch. Tuy nhiên, với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với 10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá. Tại siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500 giá.
C.Mác đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại. Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong ‎ niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại‎ trong một đơn vị tiền tệ.
Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ…

3.2. Chức năng phương tiện trao đổi

Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.
Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức độ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.
Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:
– Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền:H-T
– Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H
Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không đi liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng. Chính sức mua (Purchasing power) của tiền tệ đã quyết định điều này. Do vậy muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định, số lượng tiền tệ phải đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế, hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giao dịch của dân chúng.

3.3. Chức năng phương tiện thanh toán

Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.
Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.
Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.
Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

3.4. Chức năng phương tiện tích lũy

Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.
Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và ít sinh lời.
Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

3.5. Chức năng tiền tệ thế giới

Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.
Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-vai-tro-va-chuc-nang-tien-te/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Những câu slogan về kinh doanh hay nhất của những thương hiệu lớn

Những câu slogan về kinh doanh hay nhất của những thương hiệu lớn
Slagan được coi là một phần quan trọng không thể thiếu trong mỗi chiến lược marketing của những doanh nghiệp lớn và nhỏ. Vậy slogan là gì?

Slogan là gì?
Slogan được hiểu là một trong những câu văn ngắn chứa đựng thông điệp mang tính chất mô tả, thuyết phục khách hàng. Slogan diễn tả một lời hứa, một giá trị cốt lõi hay một hướng phát triển sản phẩm - dịch vụ của doanh nghiệp đó. Những câu slogan thường ngắn ngọn, súc tích và hiệu quả trong việc tạo dựng giá trị thương hiệu.

Những câu slogan về kinh doanh hay nhất

Dưới đây sẽ là tổng hợp những câu slogan hay về kinh doanh hay nhất của các thương hiệu lớn nổi tiếng trên thế giới để bạn có thể tham khảo:

Tổng hợp những câu slogan hay về kinh doanh bạn nên biết
Những câu slogan hay về kinh doanh ở Việt Nam
Nâng giá trị cuộc sống: Ngân hàng Viettinbank
Giá trị tích luỹ niềm tin: Ngân hàng Habubank
Khơi nguồn sáng tạo: Cà phê Trung Nguyên
Nâng niu bàn chân Việt: Thương hiệu giày dép Biti’s
Sẵn sàng một sức sống: Sữa Cô gái Hà Lan
Bia Tiger: Bản lĩnh đàn ông
“Mạnh mẽ, bền bỉ, tin cậy” – Công ty viễn thông FPT
“Viết nên cuộc sống” – Bút bi Thiên Long
“Ngon từ thịt Ngọt từ xương” – Bột ngọt Ajingon
“1000 năm sau hoa sen vẫn nở” – Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm
“Trắng gì mà sáng thế” – Công ty bột giặt Viso
Sức mạnh của giấc mơ – The power of dreams – Honda
Không ngừng vươn xa – Công ty viễn thôngVinaphone
“Mọi lúc mọi nơi” – Công ty viễn thông Mobiphone
Vươn cao Việt Nam – Vinamilk
Một phần Tất yêu của cuộc sống – Nước khoáng Lavie
Sunhouse: Bếp là nhà
Hồng Lam: Tinh hoa quà Việt
Mãi mãi tinh thần khởi nghiệp – Vin Group
Vững tiến vươn xa: Ô tô Trường hải Thaco Group
Bia Sài Gòn: Dù bạn không cao người khác cũng phải nhìn.
Quảng cáo Goldsun: Suy nghĩ không cũ về vấn đề không mới
Chung niềm tin, vững tương lai: Ngân hàng Vietcombank
Những câu slogan hay về kinh doanh trên thế giới
“Think different – Hãy suy nghĩ khác biệt” – Tập đoàn công nghệ Apple
American Express với “Don’t leave home without it” (Đừng ra khỏi nhà mà không mang theo nó)
“Ấn tượng khó phai” – Dầu gội đầu Double rich
“Đàn ông đích thực” – Nhãn hàng dành cho nam giới X-men
“City never sleeps – Thành phố không bao giờ ngủ” – Thương hiệu City Bank
““The best or nothing – Tốt nhất hoặc không có gì”.” – Thương hiệu xe hơi Mercedes-Benz
Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu: Bảo hiểm Fudentro
“For life – Vì cuộc sống của bạn ” – Thương hiệu xe hơi Volvo
“Chỉ tan trong miệng, không tan trên tay” – Thương hiệu M&M
Alpenliebe: “Ngọt ngào như vòng tay âu yếm”
Levi’s 1985: Chất lượng không thể nào thiếu phong cách: “Quality never goes of style”
Visa, 1985: Bất cứ nơi nào bạn đến – “It’s everywhere you want to be”
Microsoft: Hôm nay bạn muốn đi đâu -“where do you want to go today?”
“Where the best becomes better – Nơi những người giỏi nhất vẫn có thể giỏi hơn” – Trung tâm anh ngữ Apollo
“Where nothing is overlooked but the White House – Nơi bạn không thấy bất cứ thứ gì ngoài Nhà Trắng” – Thương hiệu The Hay-Adams.
“You’re in good hands – Bạn đang chọn đúng người phục vụ” – Công ty bảo hiểm Allstate
“You can do it. We can help – Bạn có thể làm điều đó, và chúng tôi có thể giúp” – Tập đoàn đa quốc gia The Home Depot
“When you care enough to send the very best – Khi sự quan tâm của bạn đủ để gửi đi những điều tốt đẹp nhất ” – Tập đoàn Hallmark.
“What happens here, stay here – ” – Công ty Las Vegas Convention & Visitors Authority
“We try harder – Chúng tôi luôn cố gắng hơn” – Tập đoàn Avis Budget
“Revs your Heart” – “Khởi dậy đam mê” – Yamaha
“Connecting people” – “Kết nối mọi người” – Nokia
“We deliver for you – Chúng tôi giao hàng cho bạn” – Công ty gia hàng United States Protal Service
“They’re Gr-r-reat! – Ngon tuyệt” – Nhãn hàng Kellogg Frosted Flakes
“Think small – Nghĩ nhỏ” – dành cho dòng xe Volkswagen Beetle
“You’re in good hands with Allstate” – Tập đoàn bảo hiểm Allstate (Bạn đang nắm giữ lợi thế với Allstate)
“Frosted Flakes…they’re grrrrreat!” – Tập đoàn Kellogg (Frosted Flakes… ngon tuyệt!)
“When you care enough to send the very best” – Công ty thiết kế thiệp Hallmark (Khi bạn thật sự quan tâm để gửi đi những gì tuyệt vời nhất)
“It takes a licking and keeps on ticking” – Hãng đồng hồ Timex (Chỉ cần một lần lên dây cót là chạy mãi)
“The Citi never sleeps” – Tập đoàn ngân hàng thương mại Citi Group (Thành phố không bao giờ ngủ)
“Get Met, it pays” – Hãng bảo hiểm nhân thọ Metropolitan Life (Hãy đến với Met, bạn sẽ được chi trả toàn bộ)
“When it absolutely, positively has to get there, overnight” – Hãng vận chuyển FedEx (Chỉ cần bạn có nhu cầu, chúng tôi sẽ giao hàng ngay cả khi nửa đêm)
“When EF Hutton talks, people listen” – Hãng môi giới chứng khoán Ef Hutton (Khi EF Hutton nói, mọi người đều lắng nghe)

Như vậy bài viết này giúp bạn hiểu hơn được về slogan là gì? Cũng như tổng hợp những câu slogan hay về kinh doanh không chỉ tại Việt Nam mà con trên thế giới. Hy vọng đây sẽ là bài viết hữu ích đối với bạn đọc.
Nguồn bài viết: https://marketingai.admicro.vn/nhung-cau-slogan-hay/
submitted by maketingai to u/maketingai [link] [comments]

Fxonline24h - YouTube NGHI KHIỂN ĐIỆN - THEO NGHI THỨC ĐẠO CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH Tuyệt Kỹ Giao Dịch Forex Forexfactory Bài 2: Các hệ thống giao dịch Forex trên diễn đàn forexfactory Diễn đàn lãnh đạo cấp cao Shidler Global Leadership Summit  FBNC TV

10-09 BÁO CÁO V/v Thực hiện quy định lắp camera ghi hình lái xe và hành khách trên xe khách... 09-09 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời kiến nghị của Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam 19-08 Công văn 89/HHVT-TV ngày 19/8/2020 Góp ý Dự thảo Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông... Trang chủ Diễn đàn > Ô tô - xe máy > ... Dịch vụ tin học; PR - Tổ chức sự kiện; Cưới hỏi tiệc tùng ... Diễn đàn Rao Vặt - Quảng Cáo miễn phí, nơi đăng tin tìm việc, tìm người, rao bán các loại sản phẩm hiệu quả và nhanh chóng. Follow us. Cập nhật 24h tin tức mới nhất về ôtô bốn bánh, xe hơi, siêu xe, xe thể thao tại Việt Nam và trên thế giới. Diễn đàn trao đổi, giao lưu và mua bán xe ô tô mới & cũ, xe ô tô nhập khẩu giá rẻ, đẹp và chất lượng. Trao đổi với Báo Giao thông về đề xuất này, ông Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội vận tải ô tô VN cho rằng, theo quy định dừng xe là trạng thái xe còn nổ máy, lái xe còn ngồi trên xe. Diễn đàn ô tô - Nơi chia sẻ, thảo luận các kiến thức về công nghệ, kỹ thuật và sửa chữa ô tô

[index] [12533] [3807] [4004] [13389] [13277] [11422] [11015] [10834] [4577] [10742]

Fxonline24h - YouTube

Đây là Kênh Youtube chính thức của " DIỄN ĐÀN TRUYỀN THỪA GIÁO LÝ CHƠN TRUYỀN - CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH" Kênh chuyên đăng tải các video về Nghi Lễ , các N... Hướng dẫn tìm hệ thống giao dịch Forex trên diễn đàn forexfactory Forexfactory Bài 2 icmarkets : http://bit.ly/account-icmarkets Hướng dẫn ... [ Forex Trading ] Tuyệt Kỹ Giao Dịch Forex - Đây có thể là cách giao dịch forex mà bạn chưa thấy giới thiệu ở bất cứ diễn đàn nào. Đăng ký tài khoản ... Trong thời đại nền kinh tế thế giới và Việt Nam đang đối mặt với nhiều bất định và thách thức, các giáo sư trường Đại học Hawaii và cộng đồng ... Hướng dẫn cách tìm kiếm các ý tưởng giao dịch Forex hàng đầu trên diễn đàn TradingView và xuất bản các ý tưởng giao dịch của chính mình trên diễn đàn ...

https://forex-portugal.how-does-forex-trading-work.club